Các điều kiện thanh toán và hủy lịch cần nối với phần công việc đã thực hiện, chi phí đã cam kết và quyền đã bàn giao. Không nên mặc định mọi khoản trả trước đều là đặt cọc, hoặc mọi lần hủy đều được hoàn toàn bộ phí.
Bài viết là khung chuẩn bị thương lượng. Cách phân loại khoản tiền, hiệu lực điều khoản và quyền yêu cầu hoàn/bồi thường cần được rà soát pháp lý theo hồ sơ cụ thể; không dùng các ví dụ dưới đây như mức bắt buộc của pháp luật hay chính sách BrandBooking.
Ghi đúng mục đích của từng khoản tiền
Một khoản có thể để giữ nguồn lực, tạm ứng thực hiện hoặc thanh toán đầu việc đã hoàn thành. Tên gọi cần phù hợp nội dung giao dịch, không chỉ chọn từ quen dùng. Người duyệt phải biết khi nào khoản đó phát sinh và tài liệu nào làm căn cứ.
Nếu hợp tác gồm nhiều creator, cần biết nhãn hàng trả trực tiếp, trả qua agency hay theo cơ chế nền tảng. Mỗi luồng cần rõ bên nhận, người đối soát và chứng từ phù hợp. Không nên thay đổi tài khoản nhận tiền mà không xác minh qua kênh đã được kiểm tra.
Xác minh đầu mối booking là bước hỗ trợ trước thanh toán, không thay thế việc rà hợp đồng.
Gắn mốc thanh toán với đầu ra có thể kiểm tra
| Mốc thương lượng | Căn cứ có thể dùng | Điểm cần làm rõ |
|---|---|---|
| Trước triển khai | Phạm vi và lịch được xác nhận | Mục đích khoản trả, điều kiện hoàn hoặc khấu trừ |
| Sau sản xuất | Bản nội dung hoặc mốc sản xuất đã chốt | Bản nào được xem là đáp ứng mốc |
| Sau đăng/bàn giao | Link, file, quyền và hồ sơ liên quan | Phần còn chờ có ảnh hưởng thanh toán thế nào |
| Sau đối soát | Dữ liệu đủ điều kiện tính phần biến đổi | Khoảng đo, hoàn hủy, điều chỉnh và chứng từ |
Không có tỷ lệ thanh toán chung cần áp cho tất cả các mốc. Cách chia phụ thuộc rủi ro, nguồn lực và thỏa thuận, không nên được sao chép từ một chiến dịch khác mà không xem phạm vi.
Tách đổi lịch với hủy đầu việc
Đổi ngày quay có thể vẫn giữ nguyên công việc nhưng làm phát sinh di chuyển hoặc lịch ekip. Hủy đầu việc có thể làm mất phần đã chuẩn bị hoặc đã sản xuất. Hai tình huống cần cách tính và hồ sơ khác nhau.
Ghi ai có quyền đề nghị đổi, cách thông báo, điều kiện xác nhận ngày mới và ảnh hưởng đến mốc thanh toán. “Đổi lịch miễn phí” cần biết áp dụng trong phạm vi nào; “không hoàn phí” cũng cần được xem xét về phạm vi và tính phù hợp, không dùng như cách loại mọi trách nhiệm.
Với một thời điểm ra mắt cố định, creator thay lịch có thể ảnh hưởng giá trị đầu ra nhiều hơn chiến dịch linh hoạt. Điều đó phải được phản ánh khi thương lượng, không chỉ khi sự việc đã xảy ra.
Đối chiếu phần đã làm trước khi bàn về hoàn phí
Lập bảng công việc chưa bắt đầu, đang thực hiện, đã hoàn thành và đã sử dụng. Xác định chi phí bên thứ ba đã cam kết, phần có thể thu hồi và tài liệu chứng minh. Không coi mọi chi phí được nêu ra là hợp lệ nếu chưa có căn cứ hoặc ngoài phạm vi.
Tình huống giả định: nhãn hàng hủy sau khi video đã quay nhưng chưa đăng. Cần xem phí sản xuất, phí phân phối và quyền đã mua được tách thế nào. Không thể kết luận toàn bộ phí thuộc về một bên chỉ từ việc “chưa đăng”.
Trường hợp creator không thực hiện, cũng cần xác định nghĩa vụ đã chốt, đầu vào có đầy đủ và quá trình khắc phục. Bài xử lý trễ lịch, sai brief giúp chuẩn bị hồ sơ trước khi quyết định bước tiếp.
Lập bảng quyết toán khi chiến dịch dừng giữa chừng
Khoản đã chuyển, khoản đã thực hiện và khoản được quyền giữ lại không phải ba cách gọi của cùng một số tiền. Khi hợp tác dừng, trước hết cần dựng lại dòng công việc và dòng tiền. Việc ai có quyền yêu cầu khoản nào còn phụ thuộc nội dung thỏa thuận và hồ sơ pháp lý cụ thể.
Minh họa cách tách khoản tiền, không phải công thức hoàn phí
Giả sử một báo giá minh họa tổng cộng 20 triệu đồng gồm 8 triệu sản xuất, 7 triệu đăng kênh và 5 triệu cho một phạm vi quyền bổ sung. Nhãn hàng đã chuyển 12 triệu. Khi có yêu cầu hủy, video đã quay, chưa đăng và quyền bổ sung chưa được kích hoạt theo thỏa thuận giả định.
Không thể chỉ lấy 20 trừ 12 để yêu cầu thanh toán nốt, cũng không thể lấy 12 trừ 8 để khẳng định phải hoàn 4 triệu. Cần kiểm tra khoản sản xuất đã đạt mốc nào, chi phí giữ lịch nào thực sự phát sinh và điều kiện xử lý phần chưa thực hiện. Các số ở đây chỉ phục vụ cách đối chiếu, không phải bảng giá hoặc mức hoàn mà BrandBooking áp dụng.
| Dòng cần đối chiếu | Hồ sơ cần mở | Điều chưa được phép suy |
|---|---|---|
| Sản xuất | Phạm vi, mốc hoàn thành và bản bàn giao | Đã quay là toàn bộ đầu việc đã được nghiệm thu |
| Đăng kênh | Lịch giữ, cam kết liên quan và điều kiện hủy | Chưa đăng nghĩa là không có chi phí nào |
| Quyền bổ sung | Điều kiện phát sinh và phạm vi đã xác nhận | Nhận file nghĩa là quyền đã tự động có hiệu lực |
| Tiền đã chuyển | Người nhận, mục đích, chứng từ và đối chiếu | Mọi khoản trả trước có cùng bản chất pháp lý |
Người lập bảng nên ghi số tiền đang được hai bên thống nhất và số tiền còn tranh luận ở hai cột riêng. Cách ghi này tránh việc một báo cáo nội bộ bị hiểu thành thỏa thuận quyết toán đã được bên còn lại chấp thuận.
Kiểm tra chi phí không thu hồi bằng bằng chứng
Một khoản thuê địa điểm hoặc di chuyển được nêu là không hoàn cần có căn cứ: đã được chấp thuận trong phạm vi nào, đã đặt hay chỉ dự kiến và còn khả năng đổi hoặc thu hồi không. Không tự động loại bỏ khoản đó, nhưng cũng không chấp nhận chỉ từ một mô tả chung.
Phần nguồn lực nội bộ cũng cần cách xác định đã được thương lượng. Nếu báo giá không nói cách tính khi dừng, cần đưa hồ sơ cho người có chuyên môn thay vì tự chuyển mọi giờ làm thành khoản bồi thường. Mục tiêu của bảng là làm rõ thông tin để giải quyết, không tạo nghĩa vụ mới sau sự kiện.
Tách nguyên nhân dừng với phần việc còn có thể sử dụng
Một chiến dịch có thể dừng do sản phẩm chưa sẵn sàng, creator không thể tiếp tục, lịch nhãn hàng thay đổi hoặc hai bên không thống nhất nội dung. Cùng trạng thái chưa đăng nhưng nguyên nhân và phần đầu việc đã hoàn thành có thể khác. Không dùng một tỷ lệ hoàn phí duy nhất để xử lý tất cả.
Nếu nhãn hàng vẫn muốn giữ video đã quay cho một đợt khác, cần xác nhận riêng quyền sử dụng và những thay đổi dự kiến. Khoản quyết toán sản xuất không tự trả lời việc được đăng sau này. Ngược lại, một yêu cầu không dùng nội dung nữa cần làm rõ cách lưu hồ sơ cần thiết và cách xử lý các bản đã chia sẻ.
Mẫu mượn, phụ kiện hoặc tài sản gửi đi cũng phải có người chịu trách nhiệm nhận lại. Ghi tình trạng, vận chuyển và chứng từ theo thỏa thuận; không để quyết toán tiền xong nhưng tài sản vẫn nằm ngoài kiểm soát. Với mẫu tặng, cần đối chiếu mô hình đã xác nhận thay vì tự đổi thành tài sản phải hoàn.
Xử lý file, mẫu và quyền khi kết thúc
Kết thúc hợp tác không chỉ là quyết toán tiền. Cần xác định video đã quay có được dùng không, file nào phải bàn giao, mẫu mượn hoàn trả thế nào và ủy quyền quảng cáo có phải dừng hoặc điều chỉnh không.
Không dùng video ngoài phạm vi chỉ vì đã thanh toán một phần. Cũng không tự xóa tài sản cần giữ để đối soát hoặc giải quyết tranh chấp nếu chưa xác định nghĩa vụ lưu trữ phù hợp.
Đối với Affiliate, phần doanh thu và hoa hồng có thể còn thay đổi theo trạng thái đơn. Cần chốt cách đối soát sau khi hoạt động nội dung đã dừng, thay vì coi ngày kết thúc chiến dịch là ngày mọi dữ liệu đã khóa.
Chốt phần cố định trước, giữ phần biến đổi theo trạng thái dữ liệu
Trong hợp tác có hoa hồng, việc video đã hoàn thành không có nghĩa mọi khoản biến đổi đã được xác định cuối cùng. Người phụ trách cần biết kỳ dữ liệu nào đã đủ điều kiện đối soát và phần nào còn bị ảnh hưởng bởi hoàn, hủy hoặc điều chỉnh.
Có thể lập biên bản riêng cho đầu việc cố định đã thống nhất, đồng thời ghi cơ chế kiểm tra phần biến đổi còn mở. Không nên dùng ngày kết thúc lịch đăng làm lý do bỏ qua những dữ liệu phát sinh hợp lệ cần xử lý sau đó. Cách tách phải phù hợp hợp đồng và công cụ đang áp dụng.
Một xác nhận kết thúc rõ nên trả lời được: còn đầu việc nào; còn khoản nào chưa thống nhất; ai giữ chứng từ; ai kiểm tra quyền đang sử dụng; khi nào các bên trao đổi tiếp về phần còn mở. Nó không nên dùng chữ hoàn tất để che đi những nghĩa vụ chưa được xác định.
Nếu đã có tranh chấp, bảo toàn trao đổi và chứng từ gốc theo phạm vi cần thiết. Không sửa lịch sử báo giá hoặc xóa bản duyệt để phù hợp câu chuyện của một bên. Nhờ tư vấn pháp lý trên hồ sơ cụ thể giúp phân biệt phương án thương lượng với quyền có thể yêu cầu, thay vì coi bảng tính minh họa là phán quyết.
Ghi lại thỏa thuận thay đổi bằng một bản có thể đối chiếu
Bản cập nhật cần nêu lý do, phạm vi dừng/giữ, khoản phải trả/hoàn đang được xác nhận, lịch xử lý, quyền và người chấp thuận. Nếu chưa thống nhất, ghi rõ phần chưa thống nhất; không tự diễn giải im lặng là đồng ý.
Khi có tranh chấp, nên đưa hồ sơ cho người có chuyên môn thay vì chỉ gửi một mẫu hợp đồng trên mạng. Nhãn hàng cần giữ chứng từ, phiên bản và trao đổi trong phạm vi cần thiết, đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân của các bên.
Trước booking, ba câu phải được trả lời: khoản tiền mua việc gì, điều gì xảy ra nếu lịch thay đổi và đầu ra/quyền nào còn được dùng khi hợp tác kết thúc. Làm rõ từ đầu giúp giảm mơ hồ hơn một cam kết hoàn phí nghe hấp dẫn nhưng không có điều kiện áp dụng.
Chuyển các tiêu chí trong bài thành yêu cầu cho chiến dịch: sản phẩm, mục tiêu, lịch và đầu việc cần giao. Bản brief tạo trong demo chưa được gửi.
Chuẩn bị brief theo nhu cầu →